Vietnamese English Japanese
Bảng quảng cáo

Bản tin thuế tuần 3 tháng 9 năm 2014

PDF.InEmail

(ĐẠI LÝ THUẾ TẠI QUẢNG NINH) Tổng hợp văn bản mới về thuế tuần 03 tháng 09/2014.Trong đó tiêu biểu có:

1. Công văn số 12495/BTC-TCT ngày 06/9/2014 của Bộ Tài chính về Hướng dẫn chính sách thuế TNCN đối với tiền thuế giả định, tiền nhà giả định

Thời gian qua Bộ Tài chính nhận được ý kiến của các tổ chức, cá nhân đề nghị hướng dẫn chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với trường hợp công ty áp dụng chính sách tiền thuế giả định, tiền nhà giả định khi xác định thu nhập chịu thuế TNCN. Vấn đề này, Bộ Tài chính hướng dẫn việc quy đổi để xác định thu nhập chịu thuế trong một số trường hợp như sau:

1. Đối với tiền thuế giả định.

Trường hợp người sử dụng lao động (công ty) thực hiện chính sách cân bằng thuế có khấu trừ thuế giả định trước khi trả thu nhập cho người lao động và nộp thay thuế TNCN theo thực tế phát sinh cho người lao động thì thu nhập làm căn cứ để quy đổi thành thu nhập tính thuế không gồm thuế giả định đã khấu trừ và áp dụng theo hướng dẫn tại khoản 4, Điều 7, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính.

Sau khi tính số thuế thực tế phải nộp tại Việt Nam, người sử dụng lao động thực hiện thanh toán cân bằng thuế, nếu có phát sinh khấu trừ thêm thuế giả định hoặc hoàn lại số thuế giả định đã khấu trừ thì tính giảm hoặc tăng thu nhập làm căn cứ quy đổi (thu nhập không gồm thuế giả định) của người lao động tại thời điểm nhận được khoản tiền chênh lệch để xác định thu nhập chịu thuế TNCN.

Để hiểu rõ hơn, quý Hội viên xem Ví dụ 1 tại Phụ lục đính kèm công văn.

2. Đối với tiền nhà giả định.

Trường hợp người sử dụng lao động (công ty) thực hiện chính sách tiền nhà giả định (khấu trừ tiền nhà giả định trước khi trả thu nhập và trả tiền nhà thực tế phát sinh cho người lao động) thì thu nhập làm căn cứ để quy đổi thành thu nhập tính thuế không gồm tiền nhà giả định đã khấu trừ. Việc xác định tiền nhà tính vào thu nhập làm căn cứ quy đổi thành thu nhập tính thuế bằng tiền nhà thực tế phát sinh nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế (không gồm tiền thuê nhà thực tế phát sinh và tiền nhà giả định) và áp dụng quy đổi thu nhập theo hướng dẫn tại khoản 4, Điều 7, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính.

Trong trường hợp người sử dụng lao động (công ty) đồng thời thực hiện khấu trừ tiền thuế giả định, tiền nhà giả định và trả tiền nhà, tiền thuế TNCN thực tế phát sinh tại Việt Nam thì thu nhập làm chủ dự án để quy đổi thành thu nhập tính thuế không gồm tiền thuế giả định, tiền nhà giả định đã khấu trừ. Việc xác định tiền nhà tính vào thu nhập làm căn cứ quy đổi thành thu nhập tính thuế bằng tiền nhà thực tế phát sinh nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế (không gồm tiền thuế giả định, tiền nhà giả định, tiền nhà thực tế phát sinh) và áp dụng quy đổi thu nhập theo hướng dẫn tại khoản 4, Điều 7, Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính.

Để hiểu rõ hơn, quý Hội viên xem Ví dụ 2 tại Phụ lục đính kèm công văn.

 

2. Công văn số 3920/TCT-CS ngày 10/9/2014 của Tổng Cục Thuế về khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với trường hợp thanh toán trong nội bộ doanh nghiệp:

Căn cứ hướng dẫn tại các văn bản pháp luật, trường hợp Công ty có các Chi nhánh là đơn vị hạch toán phụ thuộc khác tỉnh với trụ sở chính của Công ty, Công ty có mua, bán hàng hoá với các Chi nhánh, phát sinh hoá đơn GTGT thì phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hoá có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên để được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Trường hợp Công ty mua, bán hàng hoá với các Chi nhánh, phát sinh hoá đơn GTGT nhưng không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, Công ty có quy chế quy định về việc thanh toán bù trừ nội bộ, đề nghị làm rõ quan hệ thanh toán tiền hàng giữa Công ty và các Chi nhánh được thực hiện cụ thể như thế nào, nếu phương thức thanh toán là bù trừ giá trị hàng hoá, dịch vụ; bù trừ công nợ; hàng đổi hàng thì quan hệ thanh toán mang tính chất thanh toán nội bộ vẫn đủ điều kiện được khấu trừ thuế GTGT. Nếu Chi nhánh không có hoạt động mua bán hàng hoá, không phát sinh doanh thu thì không xuất hoá đơn và kê khai, nộp thuế.

 

3. Công văn số 3924/TCT-KK ngày 10/9/2014 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế của sản phẩm bã điều:

Về chứng từ thu mua bã điều

Trường hợp doanh nghiệp mua nông sản của người sản xuất trực tiếp bán ra hoặc mua hàng hóa, dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân kinh doanh có mức doanh thu dưới ngưỡng doanh thu chịu thuế GTGT (100 triệu đồng/năm) thì được phép lập Bảng kê theo mẫu 01/TNDN (ban hành kèm theo Thông tư số 78/2014/TT-BTC) kèm theo chứng từ thanh toán cho người bán.

- Trường hợp doanh nghiệp mua nông sản của hộ, cá nhân kinh doanh (ngoài trường hợp nêu trên) thì phải sử dụng hóa đơn theo quy định và nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1, Điều 6, Thông tư số 78/2014/TT-BTC nêu trên thì được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.

Về thuế suất thuế GTGT:

Bã điều là phụ phẩm của sản phẩm trồng trọt. Khi doanh nghiệp kê khai nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán sản phẩm bã điều sau khi thu mua cho doanh nghiệp khác ở khâu kính doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT. Trên hoá đơn GTGT, dòng giá bán là giá không có thuế GTGT, dòng thuế suất và thuế GTGT không ghi, gạch bỏ.

 

4. Công văn số 12898/BTC-TCT ngày 15/9/2014 của Bộ Tài chính về thuế GTGT đối với mặt hàng thú nhồi bông:

Căn cứ hướng dẫn tại các văn bản pháp luật, mặt hàng thú nhồi bông là đồ chơi trẻ em áp dụng thuế suất thuế GTGT 5% phải được chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy (đối với mặt hàng thú nhồi bông sản xuất trong nước), đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hoá nhập khẩu (đối với thú nhồi bông nhập khẩu) và gắn dấu hợp quy (CR).

Trường hợp trước đó, doanh nghiệp đã thực hiện khác với hướng dẫn nêu trên thì không thực hiện điều chỉnh lại, doanh nghiệp được kê khai, khấu trừ và hoàn thuế theo quy định.

 

5. Công văn số 3995/TCT-KK ngày 16/9/2014 của Tổng cục Thuế về khấu trừ thuế GTGT:

Căn cứ hướng dẫn tại các văn bản pháp luật, trường hợp Công ty TNHH Xin Chang Hua, Công ty TNHH may mặc Langham, Công ty TNHH Cao su Việt Nam- Malaysia là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các Công ty có nhập khẩu máy móc, thiết bị theo chỉ định của nhà đầu tư ở nước ngoài, thanh toán theo hình thức góp vốn đầu tư thực hiện dự án đầu tư vào Việt Nam theo Giấy chứng nhận đầu tư đã được cấp, có chứng từ nộp thuế GTGT hàng nhập khẩu, nếu Công ty chứng minh được việc tăng vốn góp của nhà đầu tư tương ứng với giá trị hợp đồng nhập khẩu (Biên bản góp vốn, biên bản định giá tài sản của Hội đồng giao nhận vốn góp của các bên góp vốn hoặc văn bản định giá của tổ chức có chức năng định giá theo quy định của pháp.luật, kèm theo bộ hồ sơ về nguồn gốc tài sản), thì thuế GTGT của máy móc, thiết bị nhập khẩu để góp vốn được kê khai khấu trừ và hoàn thuế GTGT.

Công văn này thay thế công văn số 179/TCT-KK ngày 15/01/2013 của Tổng cục Thuế.

 

6. Công văn số 3997/TCT-DNL ngày 16/9/2014 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế:

Trường hợp doanh nghiệp cử người lao động đi công tác phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và giao cho cá nhân tự mua vé máy bay, thanh toán bằng thẻ ATM hoặc thẻ tín dụng mang tên cá nhân, sau đó về thanh toán lại với doanh nghiệp nếu doanh nghiệp có đủ hồ sơ, chứng từ chứng minh khoản chi phí này phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gồm: vé máy bay, thẻ lên máy bay (trường hợp thu hồi được thẻ), các giấy tờ liên quan đến việc điều động người lao động đi công tác có xác nhận của doanh nghiệp, quy định của doanh nghiệp cho phép người lao động thanh toán công tác phí bằng thẻ cá nhân do người lao động được cử đi công tác là chủ thẻ và thanh toán lại với doanh nghiệp, chứng từ thanh toán tiền vé của doanh nghiệp cho cá nhân mua vé kèm theo chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của cá nhân tham gia hành trình vận chuyển thì doanh nghiệp được kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào và được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của các hồ sơ, chứng từ nêu trên.

Công văn này thay thế công văn số 2272/TCT-KK ngày 18/06/2014 của Tổng Cục Thuế.

 

7. Công văn số 4002/TCT-CS ngày 16/9/2014 của Tổng cục Thuế về hóa đơn:

Trường hợp doanh nghiệp đang sử dụng hoá đơn tự in, đặt in có hành vi vi phạm về hoá đơn bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế, gian lận thuế phải chuyển sang mua hoá đơn của cơ quan thuế hướng dẫn này áp dụng đối với hành vi vi phạm từ ngày 01/6/2014, ngày Thông tư số 39/2014/TT-BTC có hiệu lực thi hành. Riêng dối với các doanh nghiệp kinh doanh ngành ngân hàng, bưu chính viễn thông, điện, nước sử dụng hoá đơn đặc thù, bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế, gian lận thuế đơn vị này vẫn được sử dụng hoá đơn tự in, đặt in đặc thù mà không phải chuyển sang mua hoá đơn của cơ quan thuế. Đồng thời, cơ quan thuế thực hiện quản lý chặt chẽ, định kỳ thực hiện kiểm tra, thanh tra việc chấp hành quy định pháp luật về thuế theo quy định.

 

8. Công văn số 4003/TCT-CS ngày 16/9/2014 của Tổng cục Thuế về phương pháp tính thuế GTGT:

Trường hợp Công ty TNHH TPSC Việt Nam thành lập từ ngày 06/5/2014 để thực hiện dự án đầu tư do ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội phê duyệt tại Giấy chứng nhận đầu tư, Công ty đã thực hiện đầu tư thuê văn phòng và mua sắm tài sản, thiết bị, công cụ, dụng cụ thì được đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế theo hướng dẫn tại điểm b khoản 3 Điều 12 Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014.

Trường hợp Công ty đang áp dụng tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp thì gửi văn bản thông báo đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp về việc chuyển đổi phương pháp.tính thuế giá trị gia tăng theo mẫu số 06/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013.

Đối với những hóa đơn bán hàng Công ty đã mua của Cục Thuế TP Hà Nội nhưng không tiếp tục sử dụng thì Công ty tiến hành hủy hóa đơn theo quy định.

 

9. Công văn số 4005/TCT-CS ngày 16/9/2014 của Tổng cục Thuế về thuế suất thuế GTGT đối với mặt hàng đầu vỏ tôm sơ chế làm sạch:

Mặt hàng vỏ tôm, đầu tôm sơ chế rửa sạch bằng nước và hoá chất nhưng vẫn giữ được nguyên dạng nguyên liệu đầu tôm, vỏ tôm (mặt hàng đầu tôm, vỏ tôm sơ chế) do tổ chức, cá nhân tự nuôi trồng, đánh bắt bán ra thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

Từ ngày 01/01/2014, doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán mặt hàng vỏ tôm, đầu tôm sơ chế nêu trên cho doanh nghiệp, hợp tác xã ở khâu kinh doanh thương mại không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT. Trên hoá đơn GTGT, ghi dòng giá bán là giá không có thuế GTGT, dòng thuế suất và thuế GTGT không ghi, gạch bỏ; Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán sản phẩm đầu tôm, vỏ tôm sơ chế nêu trên cho các đối tượng khác như hộ, cá nhân kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo mức thuế suất 5%.

Công văn này thay thế công văn số 725/TCT-CS ngày 10/03/2014 của Tổng cục Thuế.

 
Trân trọng.