Vietnamese English Japanese
Bảng quảng cáo

Bản tin thuế tuần 2 tháng 12 năm 2014

PDF.InEmail

(ĐẠI LÝ THUẾ TẠI QUẢNG NINH) Tổng hợp văn bản mới về thuế tuần 02 tháng 12/2014.. Trong đó tiêu biểu có:

1. Công văn số 5455/TCT-CS ngày 05/12/2014 về việc nộp thuế TNDN tập trung tại Tổng công ty và thuế GTGT tại địa phương

 

(1) Về thuế GTGT, phí và lệ phí.

 

Trường hợp Tổng công ty có các đơn vị thành viên trực thuộc sử dụng mã số thuế riêng đã đăng ký với các Cục Thuế địa phương thì các đơn vị trực thuộc kê khai, nộp thuế GTGT, phí và lệ phí tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp đơn vị trực thuộc.

 

(2) Về thuế Thu nhập doanh nghiệp.

 

Trường hợp Tổng công ty có các đơn vị hạch toán phụ thuộc thì Tổng công ty có trách nhiệm kê khai và nộp thuế TNDN tập trung tại trụ sở chính cả phần phát sinh tại đơn vị hạch toán phụ thuộc.

 

Trường hợp Tổng công ty có các đơn vị hạch toán phụ thuộc mà các đơn vị này có hoạt động sản xuất thì phải phân bổ số thuế phải nộp ở nơi đơn vị đóng trụ sở chính và nơi có cơ sở sản xuất.

 

Trường hợp Tổng công ty có các đơn vị hạch toán phụ thuộc hạch toán được doanh thu, chi phí, thu nhập chịu thuế hoặc các đơn vị hạch toán độc lập thì các đơn vị thực hiện kê khai, nộp thuế với cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

 

2. Công văn số 5463/TCT-CS ngày 05/12/2014 về xác định thuế suất thuế tài nguyên.  
 

          Sản phẩm đất phù sa để làm nguyên liệu sản xuất sản phẩm NPK thuộc nhóm Khoáng sản không kim loại khác thì được áp dụng mức thuế suất là 5% theo quy định tại Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 ngày 16/12/2013 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

 

3. Công văn số 5469/TCT-KK ngày 05/12/2014 hoàn thuế GTGT đối với Đại sứ quán CHLB Đức

 

Cơ quan Thuế không lưu bản chính hóa đơn GTGT trong hồ sơ hoàn thuế theo quy chế miễn trừ ngoại giao đối với Đại sứ quán. Do vậy, để tạo thuận lợi trong thủ tục hoàn thuế cho cơ quan ngoại giao đối với trường hợp cơ quan ngoại giao phải sử dụng hóa đơn bản chính để thực hiện các thủ tục hành chính khác, Tổng cục Thuế hướng dẫn như sau:

 

Đại sứ quán Cộng hòa liên bang Đức tại Hà Nội được sử dụng các hóa đơn mua xe máy là bản copy có đóng dấu sao y bản chính của Đại sứ quán khi thực hiện thủ tục hoàn thuế GTGT theo quy chế miễn trừ ngoại giao.

 

4. Công văn số 5494/TCT-HTQT ngày 09/12/2014 về thuế đối với nhà thầu nước ngoài.

 

Đối với việc xác nhận số thuế đã nộp của Công ty (bên Việt Nam) nộp thay các nhà thầu nước ngoài, để thống nhất thực hiện giữa các Cục Thuế trong việc xác nhận số thuế đã nộp tại Việt Nam, Tổng cục Thuế đề nghị các Cục Thuế thực hiện theo đúng quy định của Thông tư số 156/2013/TT-TC: người nộp thuế nộp Giấy đề nghị xác nhận số thuế đã nộp tại Việt Nam theo mẫu 03/HTQT; cơ quan thuế xác nhận thuế thu nhập đã nộp tại Việt Nam theo mẫu 04/HTQT. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện thủ tục xác nhận số thuế đã nộp theo quy định của thông tư số 156/2013/TT-BTC nếu có vấn đề vướng mắc, TCT đề nghị Cục Thuế báo cáo Tổng cục Thuế để được hướng dẫn kịp thời.

 

5. Công văn số 5499/TCT-CS ngày 09/12/2014 về kê khai, nộp thuế GTGT đối với hoạt động chuyển nhượng dự án, chuyển nhượng bất động sản.

 

Trường hợp ngày 10/10/2013, Công ty CP đầu tư và phát triển Vương Long (bên bán) và Công ty CP dịch vụ Đồng Xuân Hải Dương (bên mua) ký hợp đồng để thực hiện việc mua bán tài sản gắn liền trên đất là toàn bộ Cửa hàng xăng dầu, nhà ở tập thể CBCNV và các công trình phụ trợ khác tại xã Hồng Thái Đông, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, không có cơ sở xác định là chuyển nhượng dự án đầu tư nên không thuộc đối tượng không phải phải tính kê khai, nộp thuế GTGT theo quy định tại khoản 4 Điều 5 Thông tư số 219/2013/TT-BTC, Công ty CP đầu tư và phát triển Vương Long (bên bán) phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo quy định.

 

6. Công văn số 5503/TCT-HTQT ngày 09/12/2014 về việc áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và Hàn Quốc (sau đây gọi là Hiệp định) đối với hợp đồng chuyển giao công nghệ giữa Công ty Samsung Electronics Co., Ltd (SEC) và Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên (SEVT).

         

          Thu nhập SEC thu được từ việc thực hiện Hợp đồng là thu nhập từ việc cung cấp công nghệ và thông tin kỹ thuật. Thu nhập này được coi là thu nhập từ tiền bản quyền (thu nhập dưới hình thức thu nhập trả cho việc sử dụng hoặc quyền sử dụng: công thức hoặc quy trình bí mật, thông tin liên quan đến các kinh nghiệm công nghiệp, thương mại hay khoa học) và phải chịu thuế TNDN tại Việt Nam với mức thuế suất không vượt quá 5% trên tổng số tiền bản quyền theo quy định tại Khoản 2.a và Khoản 3, Điều 12 (Tiền bản quyền) của Hiệp định.

 

Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 4, Điều 12 (Tiền bản quyền) của Hiệp định, quy định tại Khoản 2 sẽ không áp dụng nếu SEC tiến hành hoạt động doanh nghiệp ở Việt Nam thông qua một cơ sở thường trú có tại Việt Nam, và quyền hay tài sản có các khoản tiền bản quyền được trả có sự liên hệ thực tế với cơ sở thường trú đó. Trong trường hợp này, các quy định của Điều 7 (Lợi tức doanh nghiệp) của Hiệp định sẽ được áp dụng.

 

- Trường hợp quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện Hợp đồng của SEC không tạo thành hoặc không thông qua một cơ sở thường trú mà SEC có tại Việt Nam, để được áp dụng mức thuế suất giảm đối với thu nhập từ tiền bản quyền theo Hiệp định (5%), SEC hoặc đại diện được uỷ quyền có nghĩa vụ nộp cho Cơ quan thuế (Cục Thuế Thái Nguyên) hồ sơ thông báo thuộc diện giảm thuế theo Hiệp định theo quy định tại Điều 20, Chương II, Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 của Bộ Tài chính.

 

- Trường hợp quá trình đàm phán, ký kết và thực hiện Hợp đồng của SEC tạo thành hoặc thông qua một cơ sở thường trú mà SEC có tại Việt Nam, SEC có nghĩa vụ nộp thuế TNDN tại Việt Nam đối với toàn bộ thu nhập từ việc thực hiện Hợp đồng với Samsung Thái Nguyên theo quy định tại Khoản 1, Điều 7 (Lợi tức doanh nghiệp) của Hiệp định.

 

7. Công văn số 5519/TCT-DNL ngày 10/12/2014 về vướng mắc khi thực hiện Thông tư số 78/2014/TT-BTC

 

(1) Về việc chính sách thuế đối với hàng hóa, dịch vụ sử dụng để khuyến mại và biếu, tặng, cho phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.


Trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại thì VMS phải lập hóa đơn theo hướng dẫn tại công văn số 2815/TCT-DNL ngày 24/7/2014 của Tổng cục Thuế hướng dẫn về chính sách thuế và không phải tính thuế GTGT đầu ra, không phải hạch toán doanh thu để tính thuế TNDN.

 

- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để biếu, tặng, cho thì phải tính thuế GTGT đầu ra nhưng không phải hạch toán doanh thu để tính thuế TNDN. Trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại nhưng không thực hiện theo quy định của pháp luật về thương mại thì áp dụng tương tự như trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để biếu, tặng, cho.

 

- Công ty thông tin di động xác định cụ thể việc tính vào chi phí được trừ đối với giá trị cửa hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, khuyến mại phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định.

 

(2) Về việc chứng từ thanh toán tiền mua vé máy bay.

 

Trường hợp VMS cử người lao động đi công tác phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh và giao cá nhân tự mua vé máy bay qua đại lý (giá trị dưới 20 triệu đồng/lần mua) có hóa đơn GTGT của đại lý bán vé máy bay, sau đó cá nhân về thanh toán lại với VMS nếu VMS có đủ hồ sơ, chứng từ chứng minh khoản chi phi này phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh gồm: vé máy bay, thẻ lên máy bay (trường hợp thu hồi được thẻ), các giấy tờ liên quan đến việc điều động người lao động đi công tác có xác nhận của VMS, quy định của VMS cho phép người lao động tự thanh toán tiền vé máy bay, chứng từ thanh toán tiền vé của VMS cho cá nhân mua vé kèm theo hóa đơn GTGT thì VMS được kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào và được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN. VMS chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của các hồ sơ, chứng từ nêu trên.

 

Trường hợp VMS cử người lao động đi công tác phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh và giao cá nhân tự mua vé máy bay qua website thương mại điện tử thì thực hiện theo công văn số 3997/TCT-DNL ngày 16/9/2014 của Tổng cục Thuế hướng dẫn về chính sách thuế.

 

8. Công văn số 17968/BTC-TCT ngày 10/12/2014 về ưu đãi thuế TNDN đối với Công ty TNHH Brotex (Việt Nam)

 

Công ty TNHH Brotex (Việt Nam) được thành lập theo Giấy chứng nhận đầu tư lần đầu số 452043000191 ngày 18/12/2012 do Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh Tây Ninh cấp, ngày 10/01/2014 Công ty có điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư. Nếu dự án đầu tư của Công ty TNHH Brotex thực hiện giải ngân đủ vốn đầu tư 6.000 tỷ đồng chậm nhất là tháng 12/2015 (không quá 3 năm kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư lần đầu tháng 12/2012) và sử dụng trên 3000 lao động sau 3 năm kể từ năm có doanh thu từ dự án đầu tư, thì thu nhập của Công ty TNHH Brotex từ dự án đầu tư này sẽ được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện dự án đầu tư mới có quy mô vốn đầu tư lớn theo quy định tại điểm đ, Khoản 1, Điều 15 và điểm a Khoản 1 Điều 16 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP của Chính phủ. 

 

Trân trọng.