Vietnamese English Japanese
Bảng quảng cáo

Bản tin thuế tuần 2 tháng 4 năm 2016

PDF.InEmail

(ĐẠI LÝ THUẾ TẠI QUẢNG NINH) Tổng hợp văn bản mới về thuế tuần 02 tháng 04/2016. Trong đó tiêu biểu có:

1. Công văn số 1421/TCT-KK  ngày 06/04/2016 về kê khai, nộp thuế GTGT tại chi nhánh phụ thuộc

 

Trường hợp Công ty cổ phần Nhựa Rạng Đông, trụ sở chính tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành lập cơ sở sản xuất trực thuộc là Chi nhánh Công ty cổ phần Nhựa Rạng Đông - Nhà máy Nhựa Tiên Sơn thuộc địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Chi nhánh trực thuộc chỉ hoạt động sản xuất, không trực tiếp bán hàng, không phát sinh doanh thu, không thực hiện hạch toán kế toán thì Công ty cổ phần Nhựa Rạng Đông thực hiện khai thuế tại trụ sở chính (Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh) và nộp thuế cho địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc (Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh).

 

Số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc được xác định theo tỷ lệ 2% (đối với hàng hóa chịu thuế suất thuế GTGT 10%) hoặc theo tỷ lệ 1% (đối với hàng hóa chịu thuế suất thuế GTGT 5%) trên doanh thu theo giá chưa có thuế GTGT của sản phẩm sản xuất ra. Việc xác định doanh thu của sản phẩm sản xuất ra được xác định trên cơ sở giá thành sản phẩm hoặc doanh thu của sản phẩm cùng loại tại địa phương nơi có cơ sở sản xuất.

 

Trường hợp tổng số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc do người nộp thuế xác định theo nguyên tắc nêu trên lớn hơn số thuế giá trị gia tăng phải nộp của người nộp thuế tại trụ sở chính thì người nộp thuế tự phân bổ số thuế phải nộp cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc như sau: Số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc được xác định bằng (=) số thuế giá trị gia tăng phải nộp của người nộp thuế tại trụ sở chính nhân (x) với tỷ lệ (%) giữa doanh thu theo giá chưa có thuế giá trị gia tăng của sản phẩm do cơ sở trực thuộc sản xuất ra hoặc sản phẩm cùng loại tại địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc trên tổng doanh thu theo giá chưa có thuế giá trị gia tăng của sản phẩm sản xuất ra của toàn doanh nghiệp. Nếu người nộp thuế không phát sinh số thuế phải nộp tại trụ sở chính thì người nộp thuế không phải nộp thuế cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất.

 

Người nộp thuế phải lập và gửi “Bảng phân bổ thuế GTGT cho địa phương nơi đóng trụ sở chính và cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc không thực hiện hạch toán kế toán” theo mẫu số 01-6/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính cùng với hồ sơ khai thuế tới cơ quan thuế quản lý trực tiếp, đồng thời gửi một bản Bảng phân bổ mẫu số 01-6/GTGT nêu trên tới các cơ quan thuế quản lý trực tiếp cơ sở sản xuất trực thuộc.

 

Căn cứ số thuế giá trị gia tăng được phân bổ giữa địa phương nơi đóng trụ sở chính của người nộp thuế và các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc trên Bảng phân bổ theo mẫu số 01-6/GTGT nêu trên, người nộp thuế lập chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng cho địa phương nơi có trụ sở chính và từng địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc. Trên chứng từ nộp thuế phải ghi rõ nộp vào tài khoản thu ngân sách nhà nước tại Kho bạc nhà nước đồng cấp với cơ quan thuế nơi trụ sở chính đăng ký kê khai thuế và địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc.

 

2. Công văn số 1422/TCT-KK ngày 06/04/2016  về việc đăng ký, kê khai, nộp thuế GTGT đối với hoạt động kinh doanh kho ngoại quan

 

Hoạt động kinh doanh của 02 kho ngoại quan tại KCN Quế Võ và KCN Tiên Sơn, Bắc Ninh được Công ty TNHH Sagawa Express Việt Nam ủy quyền cho Chi nhánh Công ty TNHH Sagawa Express Việt Nam tại Hà Nội làm chủ sở hữu thì hoạt động kinh doanh kho ngoại quan nêu trên thuộc đối tượng kê khai, nộp thuế GTGT trực tiếp tại Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh, Tổng cục Thuế đã có công văn số 3355/TCT-KK ngày 18/8/2015 hướng dẫn về nội dung này. Quy định hiện hành không có quy định về việc hướng dẫn đơn vị tạm kê khai, nộp thuế GTGT theo tỷ lệ % trong thời gian chờ cấp mã số thuế theo đề xuất của Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh.

         

Ngày 28/03/2016 Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội có công văn số 1205/KH&ĐT-ĐTNN trả lời Công ty TNHH Sagawa Express Việt Nam liên quan đến thủ tục thành lập Chi nhánh, địa điểm kinh doanh tại Bắc Ninh (bản photo gửi kèm). Tổng Cục Thuế đề nghị Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh hướng dẫn Công ty TNHH Sagawa Express Việt Nam khẩn trương thực hiện các thủ tục đăng ký kinh doanh và kê khai, nộp thuế GTGT cho hoạt động kinh doanh của 02 kho ngoại quan theo đúng quy định.

 

3. Công văn số 1522/TCT-QLN ngày 12/4/2016 về rà soát, tổng hợp các khoản  nợ liên quan đến đất đai

 

Tổng cục Thuế yêu cầu Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức triển khai thực hiện một số nội dung công việc sau:

 

(1) Thực hiện rà soát tất cả các khoản nợ liên quan đến đất đai, đưa vào quản lý theo dõi đầy đủ trên Hệ thống ứng dụng quản lý thuế tập trung (TMS). Cục trưởng Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải chịu trách nhiệm trước Tổng cục nếu vẫn để xảy ra tình trạng không tổng hợp đầy đủ các khoản nợ liên quan đến đất đai vào ứng dụng TMS.

 

(2) Từ tình hình thực tế nợ đọng các khoản thu liên quan đến đất đai trên địa bàn, đề nghị Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo công tác đôn đốc và cưỡng chế các khoản nợ liên quan đến đất đai trong 03 tháng đầu năm 2016, kiến nghị các giải pháp góp phần làm giảm nợ đọng, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ các khoản nợ liên quan đến đất đai trong thời gian tới.

 

(3) Lập báo cáo số liệu nợ các khoản thu liên quan đến đất đai trên địa bàn theo mẫu đính kèm.

 

4. Công văn số 4752/BTC-CST ngày  07/04/2016 về việc chính sách thuế đối với sản phẩm nhôm thỏi và nhôm gia dụng

       

(1) Về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)

         

Dự án “Nhà xưởng sản xuất nhôm thỏi và nhôm gia dụng công suất 6.000 tấn/năm” nếu thuộc đối tượng hưởng ưu đãi thuế TNDN theo quy định tại Thông tư số 230/2009/TT-BTC thì được tiếp tục hưởng ưu đãi thuế TNDN theo Thông tư số 230/2009/TT-BTC trong thời gian còn lại hoặc theo Thông tư số 212/2015/TT-BTC nếu thuộc đối tượng được ưu đãi, hỗ trợ cao hơn.

         

(2) Về thuế nhập khẩu:

         

Hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định dự án “Nhà xưởng sản xuất nhôm, thỏi và nhôm gia dụng công suất 6.000 tấn/năm” mà thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư theo quy định của Nghị định số 108/2006/NĐ-CP thì được miễn thuế nhập khẩu theo quy định tại Nghị định số 149/2005/NĐ-CP, Nghị định số 04/2009/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành.

         

(3) Về thuế xuất khẩu:

         

Trường hợp sản phẩm của dự án “Nhà xưởng sản xuất nhôm thỏi và nhôm gia dụng công suất 6.000 tấn/năm” xuất khẩu được miễn thuế xuất khẩu theo quy định tại Khoản 3 Điều 14 Nghị định số 04/2009/NĐ-CP thì tiếp tục được miễn thuế xuất khẩu cho thời, gian còn lại của dự án theo quy định tại khoản 2 Điều 55 Nghị định số 19/2015/NĐ-CP.

Trân trọng.