Vietnamese English Japanese
Bảng quảng cáo

Bản tin thuế tuần 4 tháng 5 năm 2016

PDF.InEmail

(ĐẠI LÝ THUẾ TẠI QUẢNG NINH) Tổng hợp văn bản mới về thuế tuần 04 tháng 05/2016. Trong đó tiêu biểu có:

1. Công văn số 2000/TCT-CS ngày 11/5/2016 về việc sử dụng hóa đơn, chứng từ đối với Văn phòng bán vé của hãng Hàng không Aeroflot

 

Tại khoản 1 Điều 9 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/03/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn phát hành hóa đơn của tổ chức kinh doanh như sau:

 

“1. Tổ chức kinh doanh trước khi sử dụng hoá đơn cho việc bán hàng hoá, dịch vụ, trừ hóa đơn được mua, cấp tại cơ quan thuế, phải lập và gửi Thông báo phát hành hoá đơn (mẫu số 3.5 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này), hoá đơn mẫu cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp.”

 

Căn cứ quy định trên, trường hợp Văn phòng bán vé của hãng Hàng không Aeroflot Russian Intemational Airlines Nga tại Hà Nội được phép bán vé cho hãng Hàng không Aeroflot Russian Intemational Airlines Nga thì Văn phòng bán vé của hãng Hàng không Aeroflot Russian Intemational Airlines Nga tại Hà Nội phải thực hiện việc đăng ký kê khai thuế GTGT và lựa chọn loại, hình thức hóa đơn phù hợp để sử dụng.

 

2. Công văn số 2025/TCT-TNCN ngày 12/5/2016 về thống nhất sử dụng biên lai thuế đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán

 

- Các trường hợp hộ gia đình, cá nhân kinh doanh đang nộp tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng thương mại thì Người nộp thuế vẫn sử dụng chứng từ nộp thuế để nộp tiền chậm nộp tiền thuế.

 

- Từ năm 2016, đối với các trường hợp đang thu thuế theo Biên lai CTT-50 thì khoản tiền chậm nộp tiền thuế đối với hộ gia đình, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán ghi vào ô “Số thuế phải nộp theo thông báo”, đồng thời bên ô “Căn cứ thông báo nộp thuế của ...” ghi thêm thông tin “Căn cứ quđịnh tính phạt chậm nộp tiền thuế”, “Nội dung thu: tiền thuế, tiền thuế nợ và tiền phạt chậm nộp”.

 

3. Công văn số 2035/TCT-KK ngày 13/5/2016 về khai bổ sung hồ sơ khai thuế GTGT để hoàn thuế

 

- Trường hợp người nộp thuế có số thuế GTGT đầu vào chưa khấu trừ hết thuộc trường hợp được hoàn thuế GTGT, đã khai số thuế GTGT đầu vào chưa khấu trừ hết trong kỳ vào chỉ tiêu chuyển khấu trừ kỳ sau (chỉ tiêu 43 "Thuế GTGT còn được khấu trừ chuyển kỳ sau” trên tờ khai 01/GTGT hoặc chỉ tiêu 32 “Thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư chưa được hoàn chuyển kỳ sau” trên tờ khai 02/GTGT) và không khai (hoặc đã khai) chỉ tiêu đề nghị hoàn thuế (chỉ tiêu 42 “Tổng số thuế GTGT đề nghị hoàn” trên tờ khai 01/GTGT hoặc chỉ tiêu 30 “Thuế GTGT đầu vào còn lại của dự án đầu tư đề nghị hoàn” trên tờ khai 02/GTGT) của tờ khai thuế GTGT chính thức của kỳ tính thuế đã nộp cho cơ quan thuế; đồng thời đã kết chuyển số thuế GTGT chưa khấu trừ hết của kỳ tính thuế trước vào chỉ tiêu thuế khấu trừ kỳ trước chuyển sang (chỉ tiêu 22 “Thuế GTGT còn được khấu trừ kỳ trước chuyển sang” trên tờ khai 01/GTGT hoặc chỉ tiêu 21 “Thuế GTGT chưa được hoàn kỳ trước chuyển sang” trên tờ khai 02/GTGT) trên tờ khai chính thức của kỳ tính thuế tiếp theo thì không được khai bổ sung làm tăng chỉ tiêu đề nghị hoàn trên tờ khai bổ sung của kỳ tính thuế đó.

 

- Trường hợp chưa đến thời hạn khai thuế của kỳ tính thuế tiếp theo, người nộp thuế chưa nộp hồ sơ khai thuế để đưa số thuế GTGT còn được khấu trừ chuyển kỳ sau của kỳ tính thuế trước sang chỉ tiêu số thuế khấu trừ kỳ trước chuyển sang trên tờ khai chính thức của kỳ tính thuế tiếp theo và chưa nộp hồ sơ đề nghị hoàn thuế gửi cơ quan thuế thì được khai bổ sung tăng chỉ tiêu đề nghị hoàn trên tờ khai bổ sung của kỳ tính thuế đó. Trường hợp này cơ quan thuế hướng dẫn người nộp thuế khai bổ sung điều chỉnh tăng số thuế giá trị gia tăng đề nghị hoàn (chỉ tiêu số 42- “Tổng số thuế GTGT đề nghị hoàn” trên tờ khai 01/GTGT hoặc chỉ tiêu số 30 – “Thuế giá trị gia tăng đầu vào còn lại của dự án đầu tư đề nghị hoàn” trên tờ khai 02/GTGT) của kỳ tính thuế trước; đồng thời người nộp thuế khai số thuế giá trị gia tăng điều chỉnh giảm của kỳ tính thuế trước tương ứng với số thuế đề nghị hoàn tăng thêm vào chỉ tiêu số 37 – “Điều chỉnh giảm thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ của các kỳ trước” trên tờ khai chính thức mẫu số 01/GTGT hoặc chỉ tiêu 27 – “Điều chỉnh giảm thuế GTGT của HHDV mua vào các kỳ trước” trên tờ khai chính thức mẫu số 02/GTGT của kỳ tính thuế tiếp theo, người nộp thuế không được điều chỉnh vào chỉ tiêu 22 “Thuế GTGT còn được khấu trừ kỳ trước chuyển sang” trên tờ khai chính thức mẫu số 01/GTGT hoặc chỉ tiêu 21 “Thuế GTGT chưa được hoàn kỳ trước chuyển sang” trên tờ khai chính thức mẫu số 02/GTGT của kỳ tính thuế tiếp theo.

 

4. Công văn số 2079/TCT-CS ngày 16/05/2016 về chính sách thuế TNDN

 

(1) Về chính sách thuế TNDN đối với khoản tiền cho vay không tính lãi

 

Trường hợp nếu hợp đồng giữa Công ty Hoàn Cầu và bà Thủy là hợp đồng cho vay tiền nhưng không tính lãi từ các nguồn thu mà Công ty tạm thời chưa sử dụng thì đây là hoạt động cho vay vốn không theo giá giao dịch thông thường trên thị trường, thuộc trường hợp bị ấn định thuế theo quy định của Luật quản lý thuế.

 

Trường hợp xác định giao dịch giữa Công ty Hoàn Cầu và bà Thủy không phải là giao dịch vay, Công ty Hoàn Cầu không phát sinh thu nhập từ hoạt động cho bà Thủy mượn tiền thì xem xét không ấn định thuế đối với giao dịch này.

 

(2) Về trường hợp min giảm 30% thuế TNDN trong năm 2011

 

Trường hợp Công ty Hoàn Cầu trong năm 2011 ký hợp đồng góp vốn đầu tư cùng thực hiện dự án xây dựng cao ốc dân cư với Công ty Khai thác Công trình 584 (Công ty A), Công ty Hoàn Cầu đã góp đủ vốn theo thỏa thuận nhưng do Công ty A không thực hiện đúng tiến độ góp vốn nên hai bên thực hiện thanh lý hợp đồng và Công ty A phải trả lãi theo mức lãi suất vay quá hạn của Ngân hàng của phần góp vốn trễ hạn cho Công ty Hoàn Cầu theo quy định tại hợp đồng thì khoản thu nhập này được xác định là khoản thu nhập khác phát sinh từ tiền phạt, tiền bồi thường do bên đối tác vi phạm hợp đồng.Trường hợp Công ty Hoàn Cầu đáp ứng các điều kiện doanh nghiệp vừa và nhỏ thì việc ưu đãi giảm 30% số thuế TNDN phải nộp năm 2011 đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 154/2011/TT-BTC.

 

5. Công văn số 2104/TCT-KKngày 18/05/2016 về việc khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hàng hóa xuất khẩu bị trả lại

 

Trường hợp Công ty TNHH KD CBTS và XNK Quốc Việt có các lô hàng xuất khẩu bị khách hàng nước ngoài trả lại, Công ty đã kê khai điều chỉnh giảm doanh thu của hàng hóa bán ra chịu thuế suất 0% cho các lô hàng bị trả lại tại các kỳ thuế tháng 3/2014, kỳ tháng 4 và tháng 5/2014, nếu sau đó Công ty tiếp tục tái chế và xuất khẩu bán hết các lô hàng bị trả lại nêu trên, thì:

 

- Nếu xác định các lô hàng được xuất khẩu sau khi tái chế là các lô hàng đã được xuất khẩu trước đây nhưng bị khách hàng nước ngoài trả lại do sai quy cách, không đảm bảo chất lượng thì Cục Thuế tỉnh Cà Mau hướng dẫn doanh nghiệp kê khai vào chỉ tiêu [29] - Hàng hóa bán ra chịu thuế suất 0% trên Tờ khai số thuế GTGT mẫu số 01/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 6/11/2013 của Bộ Tài chính vào kỳ thuế phát sinh doanh thu bán các lô hàng xuất khẩu bị trả lại.

 

- Kể từ kỳ thuế Công ty TNHH KD CBTS và XNK Quốc Việt kê khai doanh thu bán các lô hàng xuất khẩu bị trả lại nêu trên, Công ty được xem xét, giải quyết hoàn thuế GTGT đầu vào theo quy định hiện hành.

Trân trọng.

 

 

RizVN Login